Về việc viết

Từ lâu tôi đã luôn muốn luyện viết, nhưng chưa từng thực sự bắt đầu. Gần đây, tôi cũng đã chọn viết sẽ trở thành một trong năm bài tập hàng ngày tôi sẽ làm trong thời gian sắp tới, nhưng tôi chưa biết cách thực hiện việc này ra sao.

Hôm nay, khi mò mẫm vào UW của trường Đại học Columbia, tôi rất ngạc nhiên vì cách họ tiếp cận với việc viết ở bậc Đại học. Tôi sẽ chỉ ra một số khám phá mà tôi thấy tham khảo được hoặc rất có ích với mình:

Về vai trò:

  • Viết là một thói quen trí óc.
  • Viết là một kỹ năng có thể thực hành và phát triển được, không phải là một tài năng sẵn có.
  • Viết là một quá trình hình thành và trau chuốt các ý tưởng.

Về mục đích:

  • Viết để trở thành một người đọc và viết học thuật có năng lực và độc lập hơn.
  • Viết để tham gia vào những đối thoại học thuật hình thành nên cộng đồng trí thức của trường.
  • Viết để phân tích và phản hồi với những vấn đề đương đại.

Về phương pháp (phần này rất hay):

  • Người viết đọc và tranh luận về những văn bản bác học cũng như các văn bản bình dân, hoàn thành những bài tập về đọc và viết định kì, viết một số bài luận dài hơn và đảm nhiệm một dự án nghiên cứu tự thiết kế.
  • Người viết lưu tâm tới các kỹ năng về đọc hiểu sâu, phân tích, nghiên cứu, hợp tác và sự kiểm lại nền tảng.
  • Người viết phải tiến hành viết dưới dạng bình luận cho báo chí.

The Partial World | Cornell AAP

2014_149_art_002_730x350

A Profile of Michael Ashkin, Associate Professor and Chair of the Department of Art

Michael Ashkin never intended to become an artist. After earning his master’s degree in Middle Eastern languages, he spent a number of years teaching Arabic and Hebrew at Brooklyn College, but it barely paid the bills. So he left academia for Wall Street, where one of his jobs was at Salomon Brothers, writing computer programs to reverse engineer their competitors’ mortgage-backed securities.

“It was ugly, that whole business I was involved in,” says Ashkin, talking in his studio at The Foundry. “I was smart enough to do the job I was doing, but I knew my future was limited, because I didn’t want to be a trader, and I didn’t have the personality to be a salesman. At one job, I had an office on the 60th floor of the World Trade Center, and I used to look out the window, across the river, and wonder what was out there. I hated working there, really hated it, and I started making art as a way to find some kind of meaning to my life.”

With the help of a friend, who donated his old, half-empty paint tubes, Ashkin bought some canvas and started painting. Before long, he’d turned his Manhattan apartment into an artist’s studio, throwing away his furniture to make room for artwork. For three years, he took night painting classes at the School of Visual Arts, and even though he doesn’t think much of those early works — “They’re bad,” he says, “but I had a good time making them” — when he applied to the Art Institute of Chicago for an M.F.A., they were more than enough to get him accepted into the program.

Twenty-five years later, he’s the chair of Cornell’s Department of Art.

On one wall of his studio, Ashkin has hung an array of spray paintings that are still too new to have a title. Because they’re painted in grainy, soft-focus black and white, are mostly images of architectural forms, and are small enough to fit inside a picture frame, they look like photographs.

They’re not. If you get close enough — a few inches away from their cardboard surfaces — you can see the edge of the paint as it curled around Ashkin’s template. You can see that the forms are too abstracted to be real, and that they’re not images of buildings at all. They’re two or three or four generations removed — images of models of buildings, or images of photographs of models of buildings, or images of templates of photographs of nearly empty fields that once held buildings, now become wasteland.

“I feel like I’m constructing photographs out of paint, reverse engineering them,” says Ashkin, pointing to an image that was once a New Jersey apartment building with balconies jutting out like teeth on the edge of a saw. “For example, this one came from a cardboard sculpture I made of a tower, based on a photograph I’d shot in Long Branch. I took a photograph of that sculpture, made a template based on that photograph, and spray-painted onto cardboard using that template. I’m using light and dark, and there’s something about the way the spray paint falls on the cardboard that resembles photography, and it’s still basically the perspectival view of photography, the way it sees the world. But I painted it.”

Stepping back, he talks about “this weird interrelationship between painting, photography, sculpture, and text that’s been ongoing in my work,” which is reflected around him in the studio, almost all of it in the monochrome brown of industrial cardboard or the black and white of 1950s photography. In the beginning, Ashkin was a photographer, taking pictures as a teenager in Rumson, New Jersey, a town best known as a turn-of-the-century summer home for New York industrialists. In grad school at Columbia studying Middle Eastern languages, he converted his bathroom into a darkroom, back in the days of developer, fixer, and stop baths, but by the time Ashkin reached Chicago, he was focused solely on paintings.

That changed as soon as he graduated, when he switched to sculpture, starting with a small wooden rowboat that sits at the top of a tall ladder, waiting for the coming flood. To support the sculptures, in search of details he couldn’t otherwise see, Ashkin turned back to photography, shooting the models as close-up as he could, and reigniting his interest in landscape photography. Later, with his book Garden State, he showed his wanderings through the Meadowlands, exploring the world he’d seen from his 60th-floor window and capturing the stark, gray drama of abandoned landfills and long-forgotten industrial debris.

“From here, I see surfaces, not even objects,” he writes in the text, facing an image of a dry creek bed with car parts in the foreground and power lines in the back. “I retain my mobility, my shifting viewpoint, my ever-changing story, perhaps even my potential. Yet I see only a partial world, and a partial world reveals no truth. I remain isolated, distant from God’s infinite quiet.”

The photos fed the sculptures, which grew into vast, miniature cardboard cities, tabletop models of construction sites, fortresses, desert outposts, pipelines, and power lines, then grew again, until they were big enough to fill a whole room with tiny cardboard boxes. In Adjnabistan, named after the Farsi word for stranger or other, Ashkin built a refugee camp with block after block of abandoned shipping containers, perfectly ordered and perfectly desolate; in Hiding places are many, escape only one, he created a sprawling, unplanned squatter city, viewed from above, its shanty rooftops open to the air.

Success came early, allowing Ashkin to keep working, and hasn’t stopped, with pieces at the Arp Museum, the Berardo Museum, the Carnegie Museum of Art, Documenta 11, PS 122, the San Diego Museum of Contemporary Art, Secession, the Whitney Biennial, and the Weatherspoon Art Museum. After the birth of his child, Ashkin returned to teaching, arriving at Cornell as an assistant professor in 2006, directing graduate studies for four years, and winning a Guggenheim Fellowship in 2009 and the Watts Prize for Teaching Excellence in 2007 and 2011.

In a 2010 solo exhibition at the Herbert F. Johnson Museum of Art, he showed a new collection of marginalized landscapes in a range of media. In Centralia, projected onto the museum facade, a fixedposition video camera captured the comings and goings of trucks outside a coal mine in Pennsylvania, where a fire has been burning steadily since 1962. With the sculpture Wall (Western Sahara), mounted like a frieze on one wall of the gallery, he reimagined the desert landscape of southeastern Morocco, where a fortified 2,700-kilometer sand berm runs alongside the longest minefield in the world. Then, returning to the black-and-white New Jersey of his youth, Long Branch — published last fall by Ithaca’s A-Jump Books — used offcenter, vertical landscapes to document the destruction of a working-class beachfront community, dismantled in the name of eminent domain.

“There’s a certain apocalyptic element to everything I do; you can’t avoid that,” says Ashkin. “I don’t know what the common thread is, but it has something to do with escape from a bad situation to a better one, with this modulation between optimism and pessimism. Things are really bleak in most of my work, but it’s like looking in the face of a cataclysm and still imagining a way out.”

 By Kenny Berkowitz

– See more at: http://aap.cornell.edu/news-events/partial-world#sthash.KZlWE2yt.dpuf

DAY02: When fiction turns non-fiction

IMG_1036

Đây là khung cảnh nhìn ra ngoài thành phố Osaka từ tầng 21 khách sạn nơi mình ở. Nhìn thì thấy như một khu công nghiệp nào đó, thật sự thì đúng là như vậy. Khác với Tokyo là trung tâm hành chính, thì hoạt động chủ đạo hơn ở Osaka là hoạt động công nghiệp với nhiều nhà máy, công xưởng và bến tàu đồ sộ.

IMG_1041

Bức ảnh này chụp tại khu theater show Terminator 2. Ảnh này là do Phong lí giải cho mình, Phong bảo khi đông người thì chắc sẽ đứng kín tất cả dẫy này. Universal Studio, hoá ra, không cho mình biết thêm nhiều điều về NB, nhưng lại cho mình biết thêm nhiều về Phong, và về mối quan hệ mà mình muốn hình thành giữa bản thân và em.

IMG_1047

Nếu có ai hỏi mình về Universal Osaka thì đây nè. Cũng tự hỏi tại sao chủ yếu là người NB họ vào chơi và dành cả ngày dài ở đây chứ không phải khách du lịch. Và để lí giải cho bức ảnh này thì mức thời gian chờ trung bình cho mỗi trò chơi tại đây là vào khoảng 130 – 150 phút, người NB, dĩ nhiên, coi chuyện này là chuyện rất thường tình. Đã định chơi trò nào thì cũng xác định dành thời gian để đợi tới lượt mình, không có gì mà phải kêu ca hay phàn nàn. Hầu hết những người trong đoàn mình không đợi ở một trò nào và đi vòng vòng trong khu này cho tới giờ về (độ tuổi trung bình cuả họ vào khoảng tầm 40).

Nhưng vì mình đang tránh tối đa nói về khía cạnh “du khách” của chuyến đi nên cũng sẽ không nói quá nhiều về thời gian trong này liên quan đến các dịch vụ giải trí. 

IMG_1074

IMG_1061

IMG_1073

Ăn tối tại một nhà hàng rất chan hòa với thiên nhiên, mời gọi mặt trời và mặt hồ vào cùng xơi cơm với gia đình. Mình không biết đây có phải một nhà hàng hạng bình dân không nhưng không khí gia đình hiện lên rất rõ rệt ở đây, nhà hàng đặt trên tầng 3 của một cái mall nhỏ.  IMG_1080

IMG_1083

IMG_1084Một trong những điều mình thích thú nhất ở NB đó là /alleys/. Người NB có gọi là alley không tì không biết, nhưng “alley” mà mình đang ám chỉ tới chủ yếu là con đường nhỏ, hẹp giữa hai bên hông của hai dãy nhà song song nhau. Và hướng vào nhau chỉ là phần rìa của ngôi nhà đó – cửa sau, biển hiệu quảng cáo, thùng rác, dây diện ngoằng ngoèo. Những thứ rất không “in the front” nhưng lại rất personal, kể cho mình nghe rất nhiều về ngôi nhà đó. Có phải một “du khách” như mình đang cố gắng thoát khỏi thói tiêu dùng ban ngày để tham gia hơn vào đời sống thường ngày tại đây.

Việc đó cũng giống như nỗ lực đi bộ mỗi tối với Phong, nhìn ngắm thành phố trong yên lặng và trôi theo những tưởng tượng của mình về những khả năng gây án có thể xảy ra. Mình thì cứ nghĩ hoài về những con mèo hoang, Phong thì bắt gặp một người đàn ông đi đơn độc trong “alley” mà hai chị em vào vứt rác, dựng lên hẳn một kịch bản có thể tạo ra một vụ án. Cuối cùng, việc đi bộ được định hướng bằng cơn khát chưa được thoả mãn, mà cũng phải tìm cho bằng được thứ nước uống hay dùng. Vậy là bỏ qua rất nhiều cây bán nước tự động để mò tới Seven Eleven cách khách sạn 3 con phố, để mua milk tea. Ngồi bên lề đường và bắt đầu nói trở lại những câu chuyện xảy ra trong ngày.

________________

Tại Osaka Universal Studio, lúc 9AM: “The ride”

Nếu như không có sự sợ hãi đến mức bỏ khỏi khu “the ride” đầu tiên của Phong – khi mà cả đoàn ai cũng đi, sau đó kéo theo một sự hồ nghi khó hiểu của mình về việc liệu em sẽ làm gì khi chỉ có một mình: sẽ đi tìm đường tới khu Harry Potter mà cả hai đều mong đợi hay lại “tranh thủ” “chơi điện thoại”, thì mình sẽ mãi không bao giờ tự vấn về việc này và vẫn sẽ tiếp tục giữ thái độ bán tin bán nghi và khó chịu đối với Phong. Trong khi, mình rất muốn tin ở em và thực sự hiểu em, cùng với em làm những việc em chưa thể.

Nhớ lại, khi đứng xếp hàng một mình trong khu “the ride” ấy, và nhất là khi đi cái “ride” đấy và thấy rùng mình khi mình thử đặt mình vào em và chơi trò ấy, thấy càng thương em hơn. Rõ ràng mình gần như đẩy em vào nỗi sợ hãi mà không đảm bảo sự an toàn nào.

Sự lo lắng về việc gì tiếp theo Phong sẽ làm khi bỏ chạy khỏi “the ride” đó chỉ là một nỗi bề mặt. Sự lo lắng lớn hơn và bản chất hơn đến từ chính câu hỏi bên trong mình khi mình không trả lời được điều gì đáng nên lo lắng ở đây: sự lo lắng xuất phát từ mình do mình đang không hiểu về thế giới hư cấu em đang ở trong, cái mà sau đó em kể là “private world” em bước vào từ khi tìm hiểu trên các diễn đàn về game năm lớp 6 và từ chối chia sẻ cho mình những địa chỉ đó; hay sự lo lắng xuất phát từ phía em khi em không tham gia các hoạt động hiện thực, không thúc đẩy bản thân khỏi vùng an toàn?

Ở sự lo lắng đầu tiên, đến nhiều từ bản thân, sự không hiểu này còn được cường điệu hoá bằng cụm từ lặp đi lặp lại của mẹ “suốt ngày cắm mặt vào đấy” với một ám chỉ đầy tiêu cực mỗi khi thấy Phong với điện thoại hay máy tính của em. Mình, do chưa từng dành nhiều thời gian với em để thấy có vấn đề với việc này, cũng tự mặc định thái độ này của em là lí giải cho mọi vấn đề mà em không đang vượt qua được. Khi thực sự nghĩ, mình thấy có lỗi với em. Mình hiểu bao nhiêu về thế giới ấy mà nói? Mình hiểu gì khi em bảo em ở ranh giới giữa otaku và người bình thường? Mình hiểu gì khi em bảo em học được nhiều về lịch sử và văn hoá NB khi đọc truyện? Mình hiểu gì khi em có buột miệng ước ao biết tiếng NB để đọc những quyển truyện mà chẳng ai hiểu? Mình hiểu gì khi em tự hào với những mệnh đề giao tiếp hàng ngày bằng tiếng NB mà toàn học từ hoạt hình NB? Mình hiểu gì khi em nói, không học tiếng NB thì về sau lại phải học tiếng Anh để đi du học? 

Ở sự lo lắng thứ hai, thoả đáng chứ. Bởi rõ ràng là, ở trong một thế giới hư cấu, nơi em có toàn quyền đối xử và nghĩ suy với các nhân vật hay tình tiết trong truyện và cũng không có ai “động” vào em, không có ai chỉ huy hay ra lệnh cho em phải làm gì, không phải giao tiếp với người lạ và thực hiện cả những trao đổi xã hội cơ bản nhất. Bởi vì mình thấy buồn bực nhưng cũng thương thế nào khi một cô người NB đến tận tay mình bảo mình quay lại bàn ngồi share bàn (vì khu ăn đó rất đông!) và mình đưa em ngồi lại đấy, định lát chơi roller coaster xong quay lại còn bàn, thì khi quay lại em đã đi lang thang để người khác ngồi vào bàn đó, còn nó thì đứng. Và cũng loanh quanh mãi khi phải đi tìm bàn trống để ngồi vì không muốn ngồi cùng người lạ và cũng không dám xin họ cho ngồi ké cùng.

“Ăn trưa thôi mà cứ như đi đánh giặc!” – Phong phát biểu đầy giận dữ. Mình khóc mếu.

Đấy là sau một cuộc thử thách mình ra yêu cầu và Phong phải dẫn đường. Khi mình buộc em (giữa một cơn giận dữ không nén được) phải tìm và đưa quyết định bằng được chỗ ăn nào em chọn, và kiếm được chỗ ngồi (ban đầu còn đưa ra trong 15 phút và phải ngồi trong nhà mát). Với người khác thì đâu có gì đâu, nhưng với Phong thì khó quá. Đi loanh quanh mãi, không biết ở đây có được không, mà cũng không biết làm thế nào để quyết định được, vòng tới vòng lui, có khi bị người ta lấy mất chỗ.

Khóc mếu quá khi kết thúc công cuộc đầy vất vả khi để em tự quyết hết. Phong mới đẩy ra khay phía trước mặt mình một miếng rice croquette, mình ăn một nửa chia đôi. Phong ơi, đây là hiện thực, Phong phải làm được chứ, hay Phong cứ để người ta bắt nạt và hiểu nhầm mãi?

Và liệu mình có đang đúng lắm không: lựa chọn hiện thực hay hư cấu thì ảnh hưởng như thế nào tới sự phát triển bản thân? Có phải lúc nào sống trong hiện thực cũng áp đảo?

DAY-01: HOW AM I?

Work: “condensed”

Relationships: “invested”

Study: “Berlin”

DAY-02: Research & Prep / Where do I see myself in this?

Title đầu là nghĩ ra hôm qua. Title sau là hôm nay.

Hôm qua là một ngày may mắn: đã cùng với Phong tìm hiểu những gì muốn ghé tại NB và cũng biết qua lựa chọn của mỗi đứa về từng nơi (dù chưa thực sự kĩ); đã cùng với Vy đi mua thêm những đồ cần thiết cho chuyến đi (nên chuẩn bị gì cho 1 tuần, thực sự muốn mua gì, và chỉ cần mua những gì); đã gọi điện lại với hãng hàng không và công ty du lịch để kiểm tra lại các thông tin cần thiết. Việc tự dần lo được những công việc này cảm thấy tiến triển, dần có khả năng sẽ loại bỏ được trách nhiệm của mẹ.

Việc cô đặc những sự lựa chọn của mình có tiến triển. Ví dụ như trong việc pack đồ, mình đã biết mình sẽ mặc những gì và những gì có thể sẽ mặc – những đồ có thể đều được bỏ lại. Vì thế, vali của cả hai chị em có vỏn vẹn 12/40kg (hy vọng mẹ sẽ không bỏ thêm gì vào.

Điều quan trọng cần nhớ là: Phong không nhất thiết phải là em trai, Phong từ giờ đến kết thúc chuyến đi là bạn đồng hành với mình, trên phương diện đương đầu với những thử thách dọc đường đi và trên phương diện cùng khám phá những câu hỏi còn tồn đọng trong nội tại bản thân.