Về xã hội dân sự & phong trào xã hội (2016)

Sự phát triển của xã hội dân sự ở Việt Nam và vai trò của của xã hội dân sự trong thúc đẩy sự phát triển xã hội

1. Xã hội dân sự

Trải nghiệm đầu tiên của tôi với khái niệm ‘xã hội dân sự’ đó là với chuỗi bài nói Right or Wrong? – Talkshow with Giang Đặng[1] mà Tiến sỹ Đặng Hoàng Giang từng điều phối vào cuối năm 2013 tại Manzi trên phố Phan Huy Ích. Ban đầu, tôi rất hào hứng khi thấy những vị khách mời là các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan tới chủ đề, thường nắm giữ những vị trí rất quan trọng ở các cơ quan đoàn thể lớn, có uy tín. Họ không những tới tham gia mà còn mạnh mẽ bày tỏ và bảo vệ quan điểm của mình, củng cố bằng chính những kinh nghiệm và chuyên môn của họ. Bên cạnh đó, Talk with Giang Đặng làm được một việc mà trước đó tới giờ, tôi chưa từng thấy tại Hà Nội. Đó là không gian bàn thảo này mở cửa tự do cho tất cả các đối tượng quan tâm tới tham gia—chính vì thế mà những người với background khác nhau quy tụ về cùng trong một không gian và thời gian, cùng nêu quan điểm của mình về vấn đề. Không có rào cản về tri thức, tầng lớp xã hội, mà thay vào đó, dường là sự tôn trọng tính đa dạng.

Lúc bấy giờ, trong mắt một sinh viên năm nhất ngành báo chí như tôi, tôi vừa hào hứng vừa choáng ngợp. Chưa bao giờ những vấn đề nóng trong xã hội (như hợp pháp hoá mại dâm, hôn nhân đồng giới, lại được đem ra mổ xẻ, tranh luận đa chiều đa diện và đầy tính phản biện bởi những người trong cuộc và mở diễn đàn tới những người tham dự tự do thể hiện quan điểm đến vậy. Đỉnh điểm của chuỗi talkshow này là kỳ nói chuyện Đi tìm niềm tin đã mất thông qua cái nhìn biện chứng từ phim tài liệu Chuyện tử tế của đạo diễn Đặng Văn Thuỷ. Buổi nói chuyện lần đó quy tụ số lượng người tham gia đông nhất, đến mức mọi người ngồi bệt ra sàn nhà, và đa dạng cả về nhân khẩu học: từ người trẻ tuổi như tôi, đến những người trung niên (tôi cũng rủ được mẹ đi cùng hôm đó) và cả những người đã trạc tuổi bà tôi. Trong buổi đó, đại diện mỗi thế hệ đưa ra những lập luận bảo vệ thế hệ mình—người già nói người trẻ băng hoại đạo đức, đưa xã hội xuống cấp bằng những cách giải trí kém văn hoá; đại diện người trẻ, vẫn giữ được thái độ lễ phép, bênh vực cho thế hệ mình bằng những dẫn chứng cụ thể. Tại đây, cũng có những ý kiến mang tính xây dựng được đưa ra: một bạn trẻ nói, dù quan sát thấy trong xã hội còn nhiều bất bình, còn những phi lý khó hoá giải, nhưng em thấy rất lạc quan. TS Giang Đặng khéo léo điều phối chương trình để hai bên giữ được sự tôn trọng lẫn nhau nhưng vẫn đẩy được cuộc tranh luận thêm gay gắt và đi sâu về bản chất.

Sau buổi nói chuyện hôm đó, bạn tôi quay sang nói với tôi:

– Nói nhiều mà chẳng thay đổi được gì!

Mẹ tôi cũng bảo:

– Hồi trước khác bây giờ khác, điều đó rõ ràng rồi thì cần gì phải nói nữa?

Tôi hiểu cảm giác ra về khi mỗi bên quan điểm đều không thay đổi chính kiến của mình, khiến những người tham gia cảm thấy chưa ngã ngũ, không có một bài học đạo đức, một kết luận cụ thể nào để mang về nhà; có những người sẽ thấy tốn thời gian vì tranh luận vô ích. Nhưng có lẽ, buổi nói chuyện này, theo tôi, không hướng đến thay đổi quan điểm của bất kỳ ai bằng cách kết luận người này đúng, người kia sai. Buổi nói chuyện ấy đã đạt được hai việc mà tôi cho rằng quan trọng: (1) tạo ra một không gian dân sự mà ở đó, người tham gia được tự kiến tạo nên những lập trường cho mình bằng cách a- bày tỏ quan điểm của bản thân trước người khác và b- lắng nghe những phản hồi trái chiều; và (2) khơi gợi và tạo nền móng cho một phong trào xã hội với sự tham gia đông đảo và sâu sắc hơn trong xã hội. (Ý thứ hai tôi sẽ nói sau ở phần II – phong trào xã hội.)

Ở thời điểm đó, dù mới nhen nhóm, nhưng khái niệm về “xã hội dân sự” cũng dần hình thành trong những người tham gia. Lần đầu tiên, họ được trao những quyền dân sự mà họ đúng ra tự nhiên được hưởng và thực hành thường xuyên—quyền tự do ngôn luận, tự do thể hiện, chẳng hạn, và cũng là lần đầu tiên, tôi nghĩ, họ có cảm giác được khơi gợi và thúc đẩy để thực hiện quyền của mình nhiều hơn nhằm xây dựng một không gian theo ý muốn của họ, và sâu xa hơn là một xã hội của họ.

Sau chuỗi talkshow gây tiếng vang này, TS Giang Đặng cũng tiếp tục cơi nới không gian của mình ra các hình thức khác như Reading Circle, đóng góp những bài xã luận cho các tờ báo uy tín về những hiện tượng xã hội nóng bỏng bằng ngòi bút sắc bén. Ở Hà Nội, nhiều những không gian dân sự nổi lên, đáng chú ý là những buổi nói chuyện học thuật tại Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Không chỉ có những buổi nói chuyện được mở ra và ngày càng đa dạng hoá, sau này, càng ngày càng có nhiều những hình thức khác nhau của xã hội dân sự tạo được hiệu ứng xã hội: ký tên kiến nghị[2], xuống đường diễu hành[3], triển lãm hướng tới cộng đồng thiểu số[4], hay một chiến dịch của người trẻ sử dụng nghệ thuật và mạng xã hội[5].

Tuy đã có nhiều sáng kiến khởi xướng bởi cộng đồng xã hội dân sự ở Việt Nam và vai trò của xã hội dân sự là đáng kể trong quá trình tiến hành một xã hội công bằng và dân chủ, cộng đồng này vẫn gặp nhiều trở ngại để thực sự phát huy tối đa tiềm lực của mình.

Đầu tiên là môi trường pháp lý và thủ tục hành chính đối với việc thừa nhận và đăng ký tổ chức XHDS. Theo Báo cáo của ADB, Chính phủ kiểm soát việc đăng ký ở mức chặt chẽ, đặc biệt nếu tổ chức hoạt động trong một lĩnh vực nhạy cảm. Những chuyển biến đầy chậm chạp của Chính phủ trong việc mở rộng các lĩnh vực hoạt động được thể hiện thông qua các sửa đổi kế tiếp về khuôn khổ pháp lý, trong khi ranh giới của các hoạt động không được đề cập trong luật[6].

Còn đối với nội bộ các tổ chức XHDS, có 3 trở ngại chính có ảnh hưởng tới sự phát triển của các tổ chức này:

– Thứ nhất, nguồn lực tài chính của các tổ chức xã hội dân sự (XHDS) còn phụ thuộc nhiều vào các nhà tài trợ quốc tế. Điều này không những khiến các tổ chức XHDS không ổn định tài chính, nhưng một điều quan trọng hơn là sự có mặt của các quỹ nước ngoài gây khó khăn trong khi làm việc với chính quyền. Điều này bản thân tôi đã từng gặp phải khi dự án của tôi được tài trở bởi Quỹ YSEALI của Tổng thống Obama, thực hiện trên vùng biên giới giáp Trung Quốc, đã bị nghi ngờ và giảm thời gian bởi UBND xã nơi tôi tới làm việc.

– Thứ hai là trở ngại về nguồn nhân lực. Rõ ràng nếu ai muốn “làm giàu” họ sẽ không chọn con đường phát triển sự nghiệp trong XHDS, đặc biệt ở bối cảnh Việt Nam. Phải là những người thực sự tin tưởng vào tầm nhìn và tầm ảnh hưởng tổ chức có thể tạo ra thì mới đủ động lực để vượt qua những khó khăn về tài chính. Bên cạnh đó, theo một nghiên cứu của The Asia Foundation về XHDS ở Việt Nam[7], có một xu thế không thể chối bỏ đó là những bạn trẻ đến với các tổ chức XHDS để học hỏi kinh nghiệm, tạo dựng các mối quan hệ sau đó rời tổ chức để làm ở những lĩnh vực sinh lợi hơn.

– Thứ ba, các tổ chức XHDS ở Việt Nam cũng chưa tối ưu hoá sự phát triển của tổ chức vì khả năng quản lý, hoạch định chiến lược và tầm nhìn.

Mặc dù với những rào cản như nói ở trên, phần lớn các tổ chức XHDS ở Việt Nam vẫn rất lạc quan. 64% tổ chức được khảo sát trong nghiên cứu của The Asia Foundation đưa ra lý do là niềm tin vào đường hướng của tổ chức, 26% nói về sự tài trợ tiếp tục của các quỹ, 20% tin rằng chính sách công đối với XHDS đang có dấu hiệu khả quan.

Bản thân tôi, khi nhìn mình như một phần của sự tiến triển này – trong vai trò thanh niên với những sáng kiến cộng đồng, cũng cảm thấy vững tin khi những chuyển biến xã hội tích cực có dấu ấn rất rõ nét của XHDS mà tôi sẽ nói trong phần II.

2. Phong trào xã hội

Các chiến dịch của XHDS không diễn ra đơn lẻ, mà những chiến dịch nằm trong một qúa trình vận động bài bản và mang tính chiến lược cao sẽ thực sự tác động đến xã hội. Nói vậy được bởi tôi từng làm một tiểu luận về phân tích một chính sách công cụ thể ở Việt Nam.

Để minh hoạ cho về phong trào xã hội và tầm ảnh hưởng của phong trào đó đối với xã hội, tôi xin phân một phong trào cụ thể liên quan đến vận động chính sách, cụ thể là: Luật Hôn nhân & Gia đình số 52/2014/QH13 (còn gọi là Luật Hôn nhân & Gia đình 2014), thay thế cho Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000, về Khoản 5 Điều 10 của Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn “giữa những người cùng giới tính” đã bị bỏ ra khỏi Luật Hôn nhân & Gia đình (HN&GĐ) 2014.

Quá trình hoạch định chính sách này mang đầy dấu ấn của các tổ chức XHDS, không còn tự phát mà mang tính chiến lược rất cao. Dù thực sự chỉ được dư luận và Chính phủ quan tâm vào 2012, phong trào xã hội bao gồm quá trình vận động chính sách của các nhà xã hội hoạt động trong lĩnh vực LGBT đã nhen nhóm từ năm 2009. Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) và Học viện Báo chí tuyên truyền đã tập huấn cho báo chí về LGBT và đưa ra một nghiên cứu về những thông điệp truyền thông về LGBT trên các tờ báo in và báo mạng lớn, có uy tín. Đây là nỗ lực nhằm xoá bỏ những kì thị hoặc thiếu hiểu biết trên báo chí về cộng đồng LGBT, bởi đưa tin về vấn đề này, vẫn còn tồn tại những hiểu nhầm như: người đồng tính chỉ sống ở thành thị (4% đưa tin về đồng tính ở nông thôn – trong khi ở nông thôn những người này không ít nhưng họ khó để công khai hơn), 3/4 các tin bài đưa về đồng tính nam (người đồng tính nữ khó cởi mở hơn), người đồng tính là những người làm nghệ thuật, những mối quan hệ đồng tính bị mô tả thiên lệch (các cặp đôi đồng tính giết người, đi bar, QHTD không lành mạnh).

Quay trở lại thời điểm năm 2012, khi Bộ Tư pháp tiến hành các điều tra, xử lý thông tin để xem xét lại Luật HN&GĐ, giới vận động chính sách tiếp tục đưa ra các nghiên cứu nhằm gợi ý về hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới. Các điều tra này chỉ ra sự mong mỏi của cộng đồng LGBT được pháp luật cho phép sống chung và kết hôn (92% người đồng tính nữ muốn được pháp luật ủng hộ; trong 2000 người đồng tính nam và nữ có 71% mong một điều tương tự).

Nhằm thu hút sự chia sẻ từ cộng đồng về hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới, tổ chức bảo vệ và thúc đẩy quyền của người LGBT – ICS, tận dụng thời điểm kỳ họp thứ VI của Quốc hội (10/2013)—trong đó hôn nhân đồng giới lần đầu tiên được đưa ra bàn thảo, tổ chức chiến dịch “Tôi ủng hộ – I Do”, thu hút được 8000 công chúng tham gia. Trong số những người công khai ủng hộ còn có nhiều những người nổi tiếng và có uy tín cộng đồng cao như PGS Phùng Trung Tập, nhà văn Trang Hạ, ca sĩ Thu Minh. Cùng với đó là sự đưa tin cởi mở, có hiểu biết và nhân văn hơn của báo chí về vấn đề này.

Qua nhiều tham khảo các nước khác và tham vấn các bộ, ban ngành, Bộ Tư pháp trình ra Quốc hội 3 phương án để tiếp tục tranh luận: 1 là không quy định cấm như Luật hiện hành mà quy định theo hướng không thừa nhận hôn nhân của những người cùng giới tính; không can thiệp thô bạo vào việc sống chung của những người này; quy định về quyền và nghĩa vụ giữa những người cùng giới sống như vợ chồng. 2 là thừa nhận. 3 là giữ nguyên quy định. Việc bỏ phiếu thông qua sửa đổi luật này bị lùi tới 2014 (tính thời cơ của ban hành chính sách).

Tận dụng sự ủng hộ của công chúng, BTC chiến dịch “Tôi đồng ý” tiếp tục vận động trực tiếp vào điều 16 trong Dự thảo Luật HN&GĐ bằng “Tôi đồng ý” lần 2 vào năm 2014, trước thềm họp Quốc hội lần VI. 2014 cũng là lần đầu tiên một điều tra quốc gia về quan điểm xã hội về vấn đề này, trong đó, kết quả khả quan cho cộng đồng LGBT.

Để đánh giá hiệu quả của sự thay đổi chính sách, về phía các chuyên gia, chính sách này không mang nhiều thay đổi về mặt thực quyền. Bởi, tuy bỏ cấm kết hôn giữa người đồng tính, pháp luật không thừa nhận và cũng không bảo về quyền lợi cho các cặp đồng tính khi có tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, nó thể hiện sự thay đổi trong quan niệm của những nhà làm luật—không còn coi hôn nhân đồng giới là hành vi bị ngăn cấm hay gây nguy hại cho xã hội.

Những người thuộc cộng đồng LGBT ban đầu thấy mơ hồ và hiểu lầm “sự thay đổi” này. Sau, họ cảm thấy bất bình vì như vậy, bản chất của việc họ sống với nhau hay không vẫn không có bước tiến về luật pháp mà vẫn chủ yếu cho quyết định cá nhân họ. Và họ sẽ không dừng lại việc đấu tranh cho quyền của mình được thực thi bởi pháp luật.

Tuy nhiên, cả hai nhóm trên đều phải thừa nhận một điều rằng: chính sách ra đời là một tín hiệu đáng mừng về cả tiến trình rất dài mà họ đã trải qua để đạt đến một sự thấu hiểu lớn từ cộng đồng—đặc biệt phải kể tới những phụ huynh và giới báo chí tham gia ủng hộ, xoá bỏ những kỳ thị, định kiến về LGBT, những thảo luận tích cực được đưa ra cởi mở giữa các nhà lập pháp. Xã hội cũng thể hiện một thái độ, quan điểm rõ ràng và tích cực hơn trước rất nhiều đối với cộng đồng này.

Đây là một phong trào xã hội tiêu biểu có kết quả rất khả quan. Cá nhân tôi cho rằng những nhà hoạt động xã hội đứng đằng sau sự thay đổi này đã có một đầu óc chiến lược và kế hoạch bài bản nhằm thực hiện, từng bước một, mục tiêu của mình. Dù họ có hài lòng hay chưa thực sự hài lòng kết quả này, đây cũng là minh chứng cho một sự thay đổi từ-dưới-lên, là một bài học cho các tổ chức XHDS tham khảo, và là động lực để bản thân họ tiếp tục vững tin trên con đường nhiều chông gai nhưng cũng xứng đáng công sức.

Thật vậy, đối với quốc tế, Việt Nam được đánh giá rất cao trong việc bảo vệ quyền của người LGBT, thậm chí xếp hạng rất cao trong các nước Đông Nam Á. Đây cũng có thể coi là một tác động tích cực mà các nhà làm luật sẽ phải cân nhắc trong quá trình điều chỉnh và đánh giá hiệu quả chính sách này.

[1] Facebook event của số Talkshow with Giang Đặng đầu tiên: https://facebook.com/events/219681141528218?acontext=%7B”ref”%3A22%7D&aref=22

[2] Cộng đồng, Zing News. 06/11/2014. Hơn 50.000 du khách nước ngoài ký tên cứu Sơn Đoòng. http://news.zing.vn/Hon-50000-du-khach-nuoc-ngoai-ky-ten-cuu-Son-Doong-post476670.html

[3] VTC News. 21/03/2014. Giới trẻ Hà Nội xuống đường, thắt nơ ‘kêu cứu’ cho cây xanh. http://vtc.vn/gioi-tre-ha-noi-xuong-duong-that-no-keu-cuu-cho-cay-xanh.2-545932.htm

[4] Phương Nhung, 31/05/2014. Dân trí. “Tớ kể bạn nghe” – tiếng nói qua ảnh của trẻ em dân tộc thiểu số. http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/to-ke-ban-nghe-tieng-noi-qua-anh-cua-tre-em-dan-toc-thieu-so-1401991427.htm

[5] Ngọc An, 12/05/2015. Tiền về nơi đâu? http://thanhnien.vn/van-hoa/tien-ve-noi-dau-561259.html

[6] ADB. Báo cáo tóm tắt về Xã hội dân sự Việt Nam. http://www.adb.org/sites/default/files/publication/29355/csb-vie-vn.pdf

[7] William Taylor, Nguyễn Thu Hằng, Phạm Quang Tú, Huỳnh Thị Ngọc Tuyết. 10/2012. Civil Society in Vietnam: A Comparative Study of Civil Society Organizations in Hanoi and Ho Chi Minh City. https://asiafoundation.org/resources/pdfs/CivilSocietyReportFINALweb.pdf

Advertisements